Tìm trong An toàn Môi trường:
Kĩ năng

VIỆC HỌC TẬP

KĨ NĂNG > Kĩ năng học tập > Các vấn đề của việc học tập

Trong trang này

Nhận thức, ý thức, tiềm thức, vô thức

Não và việc học

Việc học

Động cơ bốn thì của não

Sợ hay sướng

Sự chú ý khi học

Sự hình thành và sử dụng trí nhớ

Liên kêt chọn lọc

đầu trang

Trần Minh Hải.

Viết bài: 10/8/2012. Cập nhật: 24/10/2014.

Nhận thức, ý thức, tiềm thức, vô thức

S. Freud đưa ra khái niệm về cấu trúc của bộ máy hoạt động tâm thần gồm ba vùng

  • Vô thức :: inconscient
  • Tiền ý thức :: préconscient
  • Ý thức :: conscient.

Trong các nghiên cứu về những giấc mơ, ông đưa ra có hai loại giấc mơ: loại thứ nhất có nội dung dễ hiểu. Loại thứ hai nội dung biểu lộ tìm cách che dấu đi bằng những cơ chế như hoán đổi, cô đọng và biểu tượng hoá. Nhờ vào ba cơ chế chính yếu này, cái nội dung tiềm tàng, đích thực của giấc mơ đã được biểu lộ dưới một dạng khác, đã được cải trang làm ta không thể hiểu được ý nghĩa đích thực của nó nữa.

Vô thức có thể được xem như một vùng hoạt động của não bộ, có một nội dung, có những cơ chế và có thể có một năng lượng đặc biệt. Giữa vô thức và ý thức có một rào cản mà Freud gọi là “kiểm duyệt”. Ông phân biệt hai loại hình tượng ở vùng tiền ý thức, có nghĩa là những biểu tượng này có thể chuyển qua vùng ý thức một cách không khó khăn gì. Loại thứ hai là những biểu tượng ở trong vùng vô thức, có ngĩa là chúng bị dồn nén mạnh mẽ, nhưng chúng vẫn còn hiệu lực và xác định như sự hình thành những giấc mơ, những hành vi vô ý, những câu nói lỡ hay những triệu chứng loạn thần kinh, loạn tâm thần. Vô thức không chỉ là những tư duy tiềm ẩn, tiềm tàng mà có nó còn có tính chất đặc biệt là tính động, cho dù cường độ và hiệu năng của chúng, nhưng chúng không thể xâm nhập sang vùng ý thức một cách dễ dàng.

(Trịnh Tất Thắng, 2012.)

Vô thức

Nhìn một cái cây, nhận thấy lá của nó màu xanh, đem lại cảm giác dịu dàng, dễ chịu, đó là vô thức. Thắc mắc tại sao lá của nó mầu xanh, đó là ý thức. Làm một phép toán nhân một con số có 4 chữ số với một số có 2 chữ số, cứ theo quy tắc mà làm ra đáp số, đó là vô thức. Thắc mắc tại sao quy tắc lại như thế, đó là ý thức. Nếu bỗng nhiên đem hỏi người lớn tại sao lại làm theo quy tắc đó, e rằng nhiều người sẽ lúng túng. Điều này chẳng có gì lạ, bởi vì xx hội không đòi hỏi mọi người phải giải thích quy tắc, mà chủ yếu chỉ đòi hỏi thành thạo áp dụng quy tắc. Trong trường hợp này, không cần nhiều tư duy ý thức, chỉ cần vô thức nhậy bén là đủ rồi.

McFadden nhấn mạnh: Rất nhiều người thường đồng nhất tư duy với ý thức, thật là nhầm lẫn lớn. Thực tế phần lớn tư duy là vô thức, vô thức bao giờ cũng có trước, ý thức có sau, vô thức là cái phần bẩm sinh mà ai cũng có, nhưng vấn đề là nó có được đánh thức hay không. Ý thức là cái có sau, hình thành trong quá trình sống, phụ thuộc nhiều vào hoàn cảnh môi trường. Vô thức và ý thức liên quan mật thiết với nhau, thiếu một trong 2 vế đều dẫn tới tư duy què quặt.

Trẻ em tư duy chủ yếu bằng vô thức, lớn lên mới bổ sung dần dần ý thức. Vô thức có ngay từ khi lọt lòng, thậm chí ngay từ trong bụng mẹ. Các bác sĩ thường khuyên các bà mẹ có thai nên nghe âm nhạc cổ điển dịu dàng, ngắm những bức tranh phong cảnh đẹp hoặc người đẹp... là hoàn toàn có lý: Thai nhi tiếp thu thông tin về thế giới qua người mẹ ngay từ khi đang ở trong bụng mẹ, thông qua hoạt động vô thức của não.

(Phạm Việt Hưng, 2008)

Tiềm thức và nhận thức

Não bộ và việc học

  • Khả năng không giới hạn của bộ não
  • Sự liên kết nơ rôn tạo ra trí thông minh
  • Hai bán cầu não
  • Cơ chế việc học: Não và học "động cơ 4 kỳ” của não (Nguyễn Tiến Dũng, 2012)
    • Thụ động
      • Nhận thông tin từ bên ngoài (concrete experience)
      • Liên hệ với những cái đã có trong não (reflexive observation)
    • Chủ động
      • Tổng hợp lại thông tin để tạo thông tin mới (synthesis/hypothesis)
      • Điều khiển cơ thể hoạt động dựa trên thông tin tạo ra, để sử dụng và kiểm tra nó (active testing)
    • Quá trình học phải có sự cân đối giữa việc nạp kiến thức (đọc sách, nghe giảng, v.v.) và việc dùng kiến thức (làm bài tập, thực hành, ứng dụng, phát triển, sáng tạo, v.v.).
  • Sự chú ý khi học (Nguyễn Tiến Dũng, 2012)
    • Thần kinh học giải thích sự liên quan giữa sự tập trung chú ý :: attentiontrí nhớ:: memory qua cơ chế hoạt động của não gọi là cơ chế sàng lọc và khuếch đại.
    • Não hướng sự chú ý của nó đến những cái mà nó coi là quan trọng nhất, và việc này được điều khiển bởi trạng thái cảm xúc của não, theo bản năng sinh tồn. Các tín hiệu lạ thường sẽ nhận được sự chú ý nhiều hơn các tín hiệu quen. Những cái lạ mà lặp đi lặp lại nhiều lần thì sẽ thành quen và trở nên ít gây chú ý nếu như các tín hiệu lạ đó không đi kèm cái gì khác quan trọng, và đây là cơ chế nhàm hóa :: habituation của não.
    • Nếu có những tín hiệu lạ, và mỗi lần xuất hiện lại đi kèm một điều gì đó quan trọng, thì việc xuất hiện các tín hiệu đó sẽ ngày càng gây chú ý. Đây là cơ chế phản xạ hay phản ứng có điều kiện

Tối ưu hoá quá trình học tập

  • Những cách học tập tối ưu
  • Học trong trạng thái Sợ hay là sướng ? (Nguyễn Tiến Dũng, 2012)
    • Học trong trạng thái sướng thì dễ vào, còn học trong trạng thái sợ thì rất khó vào.
    • Sự sợ hãi trong quá trình học làm cho người ta chán học và không nhớ được những thứ mình học
  • Trí nhớ
    • Giấc ngủ đặc biệt cần thiết cho trí nhớ. Những thông tin mà con người thu thập vào trong não khi thức trong ngày mới chỉ là ở dạng trí nhớ tạm thời, tức là loại trí nhớ dễ bị xóa đi, đặc biệt nếu có thông tin khác viết đè lên thay thế. Để cho trí nhớ tạm thời đó, biết thành chí nhớ lâu dài, não cần “nhai lại”, “ghi tâm khắc cốt”. Đây là một quá trình hóa học – vật lý làm thay đổi cấu trúc lý sinh của một số bộ phận não. Quá trình ghi nhớ lâu dài này trong não xảy ra chủ yếu vào lúc con người đang ngủ. Khi đó, không phải là lúc não ngừng hoạt động hoàn toàn, mà chỉ là lúc não không bận bịu với những tín hiệu kích thích từ bên ngoài nữa, có thể thảnh thơi xắp xếp lại những điều ghi nhớ tạm thời trong ngày, ghi lại chúng vào bộ nhớ dài hạn.
    • Không chỉ giấc ngủ dài ban đêm rất quan trọng cho trí nhớ, mà giấc ngủ ngắn ban ngày cũng rất tốt cho trí nhớ.

Kiến thức có thể ví như một dòng suối chảy qua bộ não con người. Nếu việc truyền đạt - thu nhận kiến thức được thực hiện hợp lý thì một phần nào đó sẽ đọng lại trong trí nhớ thường trực, phần khác dưới dạng trí nhớ tiềm ẩn, có thể được đánh thức lúc cần thiết. Việc truyền đạt kiến thức một cách nhồi nhét không những không để lại một dấu vết gì trong bộ não người học mà còn có thể có ảnh hưởng tiêu cực bộ não của họ. Những điều dễ thấy trong giáo dục phổ thông Việt Nam đó là: học thuộc lòng quá nhiều, trả lời theo mẫu đã có sẵn, thậm chí làm văn theo mẫu đã có sẵn, trong các môn khoa học tự nhiên thì quá chú trọng vào bài tập, bỏ qua lý thuyết (mới chính là phần kiến thức cần truyền đạt), trong các môn khoa học xã hội thì kiến thức truyền đạt ít nhưng lại bắt học thuộc lòng - học sinh ai cũng cùng biết một vài câu thơ Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Nguyễn Khuyến, Nguyễn Bính,... nhưng ít được đọc cả bài. (Phùng Hồ Hải, 2009)

 

Liên kết chọn lọc

Tài liệu tham khảo

  1. Phùng Hồ Hải. 2009. Để thi cử có ích hơn. http://www.tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=62&News=2768&CategoryID=6
© Trần Minh Hải. An toàn Môi trường :: http://envisafety.com.

[ Quay lại ] [ Đầu trang ] [ Tải lên mạng: Samedi, 3 Décembre, 2016 1:33 PM ]