Tìm trong An toàn Môi trường:
Môi trường

TRẺ EM HỌC NGÔN NGỮ

MÔI TRƯỜNG > GIÁO DỤC > Các phương pháp giáo dục > Phương pháp giáo dục Montessori > Ngôn ngữ



Trần Minh Hải. An toàn Môi trường. http://envisafety.com

Viết bài: 26/4/2016. Cập nhật: 4/8/2016.

Thời kì nhạy cảm với ngôn ngữ ở trẻ em

Ba năm đầu tiên của cuộc đời, trẻ trải qua thời kì nhạy cảm cao nhất với ngôn ngữ. Đó là lúc trẻ vô cùng ham muốn học nghe, học nói bất cứ ngôn ngữ nào.

 

Sự phát triển bộ não của trẻ - Các giai đoạn nhạy cảm

Sự hình thành và phát triển ngôn ngữ ở trẻ em

  • Khoảng 4 tháng tuổi, trẻ biết quan sát miệng người nói đối diện.
  • Khoảng 6 tháng trẻ bắt đầu tạo ra âm tiết đầu tiên của chính mình. Nhưng âm tiết đầu tiên trẻ nói lặp lại rất lâu.
  • Khoảng 10 tháng tuổi, trẻ nhận ra ngôn ngữ từ mọi người xung quanh được nói ra là có mục đích, chứ không phải là âm nhạc. Trẻ hiểu có câu nói dành cho chính mình.
  • Khoàng 1 tuổi trẻ nói những từ có mục đích đầu tiên. Nhưng thực ra, tâm hồn đứa trẻ đã phát triển phong phú hơn những gì trẻ thể hiện ra được bên ngoài chỉ bằng một số từ hạn chế có thể phát ra thành lời. Trong đứa trẻ có cuộc đấu tranh giữa ý thức và cơ chế. Đứa  trẻ 1 tới 2 tuổi Trẻ khát khao biểu đạt bản thân.
  • Khoảng 1,5 tuổi trẻ nhận thức được rằng mỗi vật đều có một tên gọi. Thật tuyệt vời, trẻ nhận ra danh từ, đặc biệt là danh từ xác định. Trẻ phải dùng 1 từ để diễn tả cả một ý tưởng. Do đó, trẻ cần người phiên dịch ngôn ngữ trẻ thơ. «Cơm !», nghĩa là «Con đói rồi, con muốn ăn cơm». Trẻ đang dùng một từ để diễn tả cả câu.
  • Từ 1,5 tới 2,5 tuổi, trẻ lần lượt có các đợt bùng nổ từ, ngữ, câu. 
  • Từ khoảng 2,5 tuổi đến 4 hay 5 tuổi, khả năng ngôn ngữ tiếp tục phát triển mà không có các cuộc bùng nổ nào.
  • 5 tuổi, trẻ có thể nói tốt ngôn ngữ mẹ đẻ, biết sử dụng tất cả các quy luật ngữ pháp. Trẻ biết và sử dụng hàng nghìn từ. Trẻ hiện thực hoá thành quả của tiềm thức bằng chính công sức của mình, không có thầy giáo.

 

Nghe

  • Bắt đầu bằng cách nói với trẻ những từ rõ ràng, đúng ngữ pháp. Trẻ sống trong môi trường những người được giáo dục có văn hoá cao sẽ học được sự tinh tế trong ngôn ngữ.
  • Cho trẻ tiếp xúc với cuộc sống hằng ngày của những người lớn xung quanh để trẻ thấy được ích lợi của chữ viết, lời nói và trẻ nhu cầu giao tiếp với người khác.
  • Đọc to cho trẻ nghe để trẻ thấy được sự thú vị của sách vở, ngôn ngữ.
  • Quan trọng nhất là những từ vựng đầu tiên của trẻ phải là những thứ trong nhà hằng ngày trẻ gặp: quần áo, đồ bếp, đồ dùng, đồ chơi... Trẻ sẽ vui mừng khi biết được tên gọi của những thứ mà bé thấy và sử dụng mỗi ngày, và có thể sử dụng ngôn ngữ đúng cách. Người lớn cần gọi chính xác tên sự vật và hiện tượng khi có mặt trẻ em. Nói chuyện với trẻ về những thứ trẻ gặp hằng ngày.
  • Giới thiệu với trẻ vật thật và tên gọi trước khi giới thiệu hình ảnh của đồ vật đó và từ vựng trên thẻ học chữ. Đó là cách học ngôn ngữ liên hệ với thế giới đời thực.
  • Nguồn cung cấp vốn từ vựng phong phú và thú vị cùng với ngữ pháp chuẩn mực có sẵn ở kho tàng văn học như truyện đọc, truyện ngụ ngôn, thơ, kịch rối,… 
  • Đọc sách cho bé. https://www.facebook.com/nghoanganh.nutrition/videos/vb.100003713187043/827008357432929/?type=2&theater

Các hoạt động

Nói 

"Tiếng nói là một trong những quá trình kích hoạt khó khăn nhất, tương ứng với gian đoạn nhạy cảm dài nhất. Trẻ sơ sinh không có một ngôn ngữ hoàn chỉnh, mà chỉ là một thiên hướng cho năng lực ngôn ngữ. 

Đứa bé sống trong môi trường luôn có những người biết nói và chính họ cung cấp những kích thích cần thiết cho thành tựu về tiếng nói của trẻ sơ sinh. Ban đầu, các âm thanh của môi trường rất lộn xộn và hỗn độn, không sao phân biệt được và bỗng nhiên chúng trở nên rõ ràng, quyến rũ, mê hoặc, những âm thanh riêng lẻ của một ngôn ngữ  rõ ràng (trẻ vẫn chưa hiểu được). Tri tuệ (còn chưa có tư duy) nghe thấy một thứ âm nhạc ngập tràn thế giới. Sau đó các thớ thịt trong bản thân bé được kích động, (không phải tất cả, mà chỉ những cái có vai trò trong việc phát ra âm thanh) chỉ rung lên tạo thành những tiếng kêu lộn xộn vô nghĩa. Bây giờ các cơ đã được đánh thức bằng các chuyển động đều đặn, có trật tự, thay đổi cách rung. Như vậy nhịp độ và tiết tấu mới đã chuẩn bị cho phôi thai tinh thần. Dần dần đôi tai nghe được âm thanh, cái lưỡi được kích hoạt theo động tác mới bây giờ bắt đầu cảm thấy có một rung động nội tại lôi cuốn nó tìm cuống họng, môi và má. Những rung động này là sự sống nhưng chưa phục vụ cho một mục đích nào, chỉ mang đến niềm khoái lạc khôn tả. 

Dấu hiệu duy nhất thể hiện ra ngoài cho thấy trạng thái mẫn cảm là nụ cười của trẻ, là niềm vui của trẻ thể hiện rõ ràng khi ta nói với trẻ những từ ngắn, phát âm rõ ràng để trẻ có thể phân biệt được như ta phân biệt hồi chuông. 

Hoặc trẻ im lặng trong bình an vào buổi tối khi nghe hát ru, lặp đi lặp lại những từ giống nhau. Chính trong trạng thái thích thú như thế trẻ rời trạng thái ý thức đi vào thế giới giấc mơ. Vì người lớn nhận biết được điều này, nên chúng ta nói với trẻ những lời dịu dàng, yêu thương để nhận lại nụ cười đầy sức sống của con trẻ. 

Trong một thời gian dài sau khi chào đời, đứa bé không nói được. Từ 6 tháng tuổi bé mới bắt đầu bập bẹ các vần. Đó là một sinh vật bất lực, la hét được nhưng không nói được. 

Cái vẻ ù lì bên ngoài chuẩn bị những điều bất ngờ của cá tính. Tiếng nói không lời rồi một ngày sẽ thành lời, nhưng chúng ta không biết đó sẽ là thứ tiếng nào. Trẻ sẽ nói thứ tiếng mà trẻ tiếp thu được khi lắng nghe người xung quanh. Với những cố gắng lớn lao, bé sẽ tạo nên âm vần và từ ngữ. Bé là người xây dựng cho riêng mình tất cả các chức năng trong quan hệ với môi trường. Bé là người sáng tạo nên bản thể của chính mình." 

(Maria Montessori. Bí mật tuổi thơ. The secret of childhood.)

Liên kết chọn lọc

BẮT ĐẦU TỪ CÁI THÂN THIẾT VỚI TRẺ

Hai tuổi, trẻ đạt cực đại về nhạy cảm môn ngữ. Nếu không có kích thích từ sơ sinh tới lúc đó thì không có giai đoạn nhạy cảm ngôn ngữ và khi đã qua 6 tuổi không bao giờ có lại được cực đại đó nữa.  Kích thích là nói chuyện với trẻ, nói từng từ ngắn và rõ ràng, cho trẻ nhìn miệng khi nói, nhìn hành động biểu diễn, nhìn chữ viết...

Quan điểm giáo dục của Montessori dựa trên sự phát triển tâm lí của trẻ em. Thực tế mỗi người lớn chúng ta luôn thấy trẻ thoải mái, vui vẻ thì trẻ học hiệu quả hơn nhiều so với việc trẻ phải học dưới áp lực của yêu cầu phải học cái gì, lúc nào, làm thế nào. Trẻ càng tự do để khám phá, càng ham học. Trẻ hoàn toàn có thể bắt đầu từ một chi tiết mình thích thú nhất rồi sẽ đi tới nội dung khác vì thế giới này không có gì độc lập cả, mà tất cả sự vật hiện tượng liên quan với nhau. Nhưng trẻ cần bắt đầu từ cái gì đã được thấy, đã được biết. quả roitheo cách gọi của miền bắc mà phải học là quả mận. Khi trẻ lớn lên, trẻ tự tìm hiểu và biết được quả mận có tên gọi khác ở miền bác là quả roi. Cũng tương tự, không nên có bộ sách giáo khoa chung cho cả nước trong khi mỗi vùng miền có văn hoá địa phương phong phú cần gìn giữ. Hãy bắt đầu từ chính cái văn hoá địa phương của mình mà mở rộng ra khi lớn lên. Trẻ em hoàn toàn làm được.

Trẻ đã biết vật thể thật cụ thể, bé tập gọi tên bằng ngôn ngữ nói. Đến khi biết gọi tên đồ vật rồi, bé học với ngôn ngữ viết thì Montessori có bộ từ vựng gồm hình minh hoạ, đồ vật minh hoạ dạng thu nhỏ, chữ in tên gọi của đồ vật. Trẻ học một mình, không cần người lớn chỉ dạy từng li từng tí, sai chỗ nào sửa như thế nào. Cách tự học, tự sửa sai mới nắm vững kiến thức hơn cả ngoan ngoãn làm theo lời người khác. Ví dụ, các từ vựng để trẻ học một mình luôn luôn có một bản để trẻ nhìn vào mà biết chỗ sai để sửa. Mỗi từ vựng luôn có một hình ứng với tên gọi, và hình ảnh để rời với tên gọi để rời cho bé tìm tên và ráp vào cho đúng.

Học từ vựng

Giúp bé học ngôn ngữ từng bước.

  • Đọc sách cho bé mỗi ngày;
  • Nói với bé: mình đang làm gì với bé, bé đang làm gì,
  • Gọi tên đồ vật
  • Sử dụng thuật ngữ mô tả: Ví dụ 
    • Nói về màu: màu cơ bản (xanh dương, đỏ, vàng), màu thứ cấp (xanh lá cây, cam, tím, nâu...) màu mô tả (đỏ cánh sen,... ), sắc độ (đậm, nhạt). 
    • Nói về kích thước (to, nhỏ, dài, ngắn, nhỏ, rộng...). 
    • Nói về khối lượng: nặng, nhẹ; 
    • Bề mặt: nhẵn, nhám;
    • Nói về vị: chua, mặn, ngọt, cay, đắng...
  • Khi bé hiểu các từ mô tả, có thể đặt câu hỏi để bé tự mình mô tả. 
  • Trò chơi tìm đồ vật khi người khác mô tả lần lượt thêm các đặc tính của vật.

Học bằng các học cụ Montessori

  • Thẻ phân loại :: CLASSIFICATION CARDS: gồm các hình ảnh và tên gọi ứng với từng nhóm như đồ vật, người, động vật, thực vật
  • Thẻ hai mảnh :: TWO-PART CARDS (matching): gồm hai mảnh giống hệt nhau để trẻ tìm và ghép hai thẻ này lại thành cặp giống nhau.
  • Thẻ 3 mảnh :: THREE-PART CARDS (nomenclature with labels): gồm 1 mảnh hình và tên, với 2 mảnh hình riêng và tên riêng. Trẻ ráp hình với tên tương ứng, mảnh có hình và tên dùng để tự kiểm tra.
  • Thẻ 4 mảnh :: FOUR PART CARDS (with definitions): gồm thêm 1 mảnh đưa ra định nghĩa của khái niệm mới.

Liên kết chọn lọc

Viết và đọc

Giúp trẻ chuẩn bị cho viết và đọc

  • Về thể chất: giữ cân bằng, sử dụng bàn tay, kết hợp làm việc giữa tay và mắt, học cách tập trung vào hoạt động kĩ năng cuộc sống, nhận ra kích thước và hình dạng, làm việc với các bảng ghép hình, tập tô màu hay vẽ với bút chì và bút bi, luyện tập nói… để luyện điều khiển cơ thật tinh tế rồi mới sẵn sàng về thể chất chuẩn bị cho việc viết và đọc.
  • Về tinh thần: hấp thu và sử dụng ngôn ngữ, học âm tạo thành do các chữ cái (không phải là tên chữ cái) và chơi trò chia từ thành các âm, chơi trò đoán đồ vật. 
  • Về xã hội : trẻ cần được sống trong nhà nơi mọi người nói chuyện trao đổi với nhau, thường hay đọc sách báo thay vì người lớn xem ti vi hoặc học với máy vi tính.

Nhạy cảm về cơ bắp phát triển mạnh nhất ở trẻ nhỏ nên hoạt động viết rất dễ dàng với trẻ nhỏ. Người lớn không bao giờ bắt buộc trẻ phải đọc to, hay phải viết ở tuổi còn nhỏ nhưng người lớn cần cung cấp học cụ sẵn sàng và làm mẫu để trẻ học những kĩ năng trên.

  • Bộ chữ bằng giấy nhám. 3-6 tuổi là giai đoạn nhạy cảm mà trẻ mong muốn được biết tên mọi thứ, gồm cả âm và chữ, nhạy với xúc giác và cảm nhận. Bộ chữ bằng giấy nhám giúp trẻ cảm nhận được hình dáng nhờ việc sờ vào mặt chữ. Trẻ tự tập phát âm, lập lại nhiều lần với từng chữ cái. Ở nhà, có thể dùng bảng chữ in nổi của các sách bán sẵn trên thị trường. Cách khác là dùng khay cát hay bột để viết chữ.
  • Bộ chữ cái rời.  Khi trẻ sẵn sàng về tinh thần cho học viết, bé sẽ chọn chơi với các chữ cái cắt rời để ráp thành chữ. Chữ cái di động thường dùng là chữ thường ở lớp học vì dễ cảm nhận bằng tay và dễ vẽ. Ở nhà, chúng ta có thể sử dụng bộ chữ cái có nam châm thường gắn tủ lạnh.
  • Giao tiếp với trẻ. Những câu giao tiếp giúp trẻ phong phú từ vựng ”Con đã ăn sáng với gì?” hay “Con đã thấy gì trên đường đi học?” Sau đó, khi trẻ sẵn sàng chơi với chữ cái di động, cha mẹ có thể hỏi câu hỏi tương tự.  
  • Bộ thẻ hình và tên gọi. Giới thiệu với trẻ các từ vựng đơn giản bằng bộ thẻ hình và thẻ tên của các vật mà trẻ đã biết tên. Trẻ đọc nhãn và kết hợp đúng với hình. Trong bộ thẻ này có các thẻ có tên sẵn để trẻ nhận biết mình ghép tên đúng với hình hay không. Trẻ thích đọc và kiểm tra việc làm có đúng không và sẽ lặp lại nhiều lần cho tới khi đúng hoàn toàn. Các chơi này có thể giúp trẻ khám phá thêm hằng trăm từ có nghĩa. Trong số từ vựng được nói đã với trẻ, những từ quan trọng nhất đưa cho trẻ khi bắt đầu đọc là tên của những đồ vật thông thường trong nhà và trong lớp.
  • Chơi đoán đoán đồ vật nhờ gợi ý từ chữ cái đầu tiên và các đặc tính của nó. 

Tất cả các hoạt động trên cần phải được giới thiệu với bé trong tinh thần vui vẻ để giúp trẻ khám phá ngôn ngữ đầy hạnh phúc chứ không phải ở tình trạng bắt buộc phải học như ở trường. Khi chơi với những trò chơi và học cụ trên, trẻ thỉnh thoảng tự do khám phá viết và luôn luôn viết một thời gian dài trước khi khám phá việc đọc.

Bắt đầu với những từ mà trẻ đã biết và mong muốn diễn tả bản thân, chứ không phải là những từ người lớn cho là dễ vì chỉ có 2 hay 3 chữ cái (như áo, mắt, mũi…). Đối với trẻ ; đầu tiên có thể diễn tả suy nghĩ của bản thân bằng chữ cái là vô cùng quan trọng, nên trẻ làm việc nhiệt tình và hạnh phúc, không biết mệt. Viết không phải như người lớn nghĩ, là phải đúng chính tả, đúng khoảng cách giữa các từ, đúng ngữ pháp.

Đọc cũng không khó đối với trẻ nhỏ, nhưng cần có thời gian để dài hơn để xây dựng và phát triển trí tuệ ở cao hơn. Khi lần đầu tiên trẻ nhận ra âm của một nhóm chữ cái, từ, trẻ lặng lẽ phát âm trong đầu. Nói những từ này lớn lên phức tạp quá trình, đặc biệt khi có người khác nghe thấy. Không bao giờ yêu cầu trẻ đọc lớn vào giai đoạn đầy học đọc, ở khoảng 3 tới 6 tuổi.

(Susan Mayclin Stephenson. Child of the World: Montessori, Global Education for Age 3-12+. http://www.michaelolaf.net/newsmarch2013.html)

Đọc

Học cụ tự làm.

Kể truyện

Liên kết chọn lọc về bước đầu học chữ

Ngữ pháp

  • Ngữ pháp
  • Ngữ pháp ngôn ngữ được giới thiệu với trẻ từ khoảng 5 tuổi - 5 tuổi rưỡi.

Các thứ tiếng

 

Học hai ngôn ngữ

 

 

Tiếng Anh

Liên kết chọn lọc

Sách

Video

Bài báo

Học cụ

Tài liệu tham khảo

© Trần Minh Hải. An toàn Môi trường :: http://envisafety.com.

[ Quay lại ] [ Đầu trang ] [ Tải lên mạng: Lundi, 11 Septembre, 2017 0:38 AM ]